Nourisil MD là sản phẩm của Fagron UK

CÁC GIAI ĐOẠN CHỮA LÀNH VẾT THƯƠNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH SẸO

Khi chúng ta có một vết thương do chấn thương hoặc phẫu thuật, quá trình chữa lành vết thương sẽ được kích hoạt. Hiện tượng lành thương được thể hiện qua 4 giai đoạn rõ rệt: cầm máu, viêm nhiễm, tăng sinh và trưởng thành. Mỗi giai đoạn kế tiếp được đặc trưng bởi các quá trình sinh hóa quan trọng cần thiết cho sức khỏe của một cá nhân và tái tạo cấu trúc tế bào. Nếu tiến trình chữa lành vết thương diễn ra không thuận lợi, quá trình đông máu và tái tạo mô sẽ lên đến đỉnh điểm và để lại sẹo tối đa. Mỗi vết sẹo là một lời nhắc nhở hữu hình về chuỗi quá trình kích thích việc chữa lành vết thương và sửa chữa mô.

Tiếp tục đọc để tìm hiểu thêm về bốn giai đoạn chữa vết thương và khám phá phương pháp đã được chứng minh lâm sàng để giảm sự xuất hiện của vết sẹo.

Bốn giai đoạn của tiến trình lành thương

Thông thường, ba giai đoạn chữa lành vết thương đã được chứng minh và xác định: viêm, tăng sinh và trưởng thành. Các giai đoạn này có thể được biểu thị bằng các tên khác nhau tùy theo tác giả. Một số tác giả  gọi giai đoạn tăng sinh là nguyên bào sợi hoặc tạo hạt, và giai đoạn trưởng thành là tái tạo. Sau đó, các tác giả và bác sĩ xác định bốn giai đoạn chữa lành vết thương với việc bổ sung thêm giai đoạn cầm máu xảy ra trước khi bị viêm. Một số xem cầm máu là một phần của giai đoạn viêm. Điều quan trọng cần hiểu rõ là các hoạt động sinh hóa trong một giai đoạn có thể chồng chéo và tác động lẫn nhau với những hoạt động khác. Do đó, thời điểm một giai đoạn kết thúc và giai đoạn tiếp theo bắt đầu rất khó xác định rõ ràng.

Cầm máu là giai đoạn đầu tiên của quá trình chữa lành vết thương, hoạt động như một cơ chế phản ứng đầu tiên với chấn thương. Ngay sau khi bị thương, các mạch máu ở vùng chấn thương co lại để làm chậm quá trình mất máu (được gọi là hiện tượng co mạch). Sau đó, tiểu cầu được giải phóng tại vị trí vết thương để đông tụ với fibrin (protein dạng sợi). Sự kết tụ của tiểu cầu và fibrin tạo thành huyết khối hay còn gọi là cục máu đông, bịt kín các mạch máu bị vỡ và làm đông máu. Toàn bộ quá trình này có thể kéo dài trong hai ngày hoặc nhiều hơn. Băng vết thương bằng băng hoặc gạc có thể giúp cầm máu và làm đông máu.

Viêm là một hiện tượng sinh lý được đặc trưng bởi sự giãn nở của mạch máu ngay sau khi quá trình cầm máu đã đạt được. Chức năng chính của việc giãn mạch là ngăn ngừa nhiễm trùng trong quá trình chữa lành vết thương. Một số enzyme có lợi và bạch cầu xâm nhập vào vùng vết thương tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình viêm. Các tế bào và phân tử có lợi này (được gọi là dịch tiết ) đi qua huyết tương từ các mao mạch cục bộ tại vị trí vết thương. Các đặc điểm vật lý của giai đoạn viêm được đánh dấu bằng vết thương tấy đỏ, đau, sưng và nóng. Giai đoạn lành thương thứ hai này có thể kéo dài sáu ngày hoặc hơn sau khi vết thương khởi phát ban đầu. Các hoạt động sinh hóa hiện diện trong quá trình viêm chồng chéo và tác động lẫn nhau với các hoạt động sinh hóa từ quá trình cầm máu.

Tăng sinh là giai đoạn thứ ba của quá trình chữa lành vết thương, đặc trưng bởi sự hình thành mô hạt thông qua một quá trình được gọi là hình thành mạch. Mô hạt là chất nền ngoại bào bao gồm mô liên kết và mạch máu mới thay thế mô bị tổn thương sau chấn thương. Mô mới này thường có màu hồng hoặc đỏ xuất hiện do các tác nhân gây viêm – một dấu hiệu của việc chữa lành vết thương bình thường. Sự tái tạo mô trong giai đoạn này dựa vào hoạt động của nguyên bào sợi và sản xuất collagen (protein cấu trúc). Toàn bộ quá trình này có thể kéo dài trong hai hoặc nhiều tuần sau chấn thương. Mức độ ẩm và oxy thích hợp là cần thiết cho hoạt động bình thường của quá trình tăng sinh trong quá trình chữa lành vết thương.

Trưởng thành là giai đoạn thứ tư và cuối cùng của quá trình chữa lành vết thương (còn được gọi là giai đoạn tu sửa). Giai đoạn này có thể kéo dài đến hai năm sau khi vết thương co lại và liền miệng. Sản xuất collagen nhằm mục đích lấy lại độ bền kéo (tensile strength) và độ đàn hồi của da tiếp tục kéo dài trong quá trình trưởng thành. Sự tích tụ collagen trong mô hạt dẫn đến hình thành sẹo. Sự trưởng thành của vết thương cũng cho thấy sự ổn định của mạch máu từ giai đoạn viêm và tăng sinh. Các tế bào và các phân tử khác phổ biến trong các giai đoạn trước đó tham gia vào quá trình “apoptosis”, còn được gọi là quá trình chết tế bào theo chương trình. Mô sẹo hình thành trong quá trình trưởng thành trung bình yếu hơn và kém đàn hồi hơn 20% so với da trước khi bị thương.

Hình thành sẹo và quản lý sẹo

Với lượng quá nhiều, quá trình sản sinh và tích tụ collagen có thể dẫn đến hình thành sẹo lồi và sẹo phì đại. Điều này xảy ra khi các nguyên bào sợi và tế bào sừng trên da hoạt động nhiều hơn bình thường để tái cấu trúc và xây dựng lại các mô bị tổn thương. Sẹo bất thường có thể nổi lên và đổi màu, và do mô sẹo thiếu nang lông và tuyến mồ hôi, nên có thể cảm thấy ngứa và đau.

Giải pháp bôi tại chỗ duy nhất đã được chứng minh lâm sàng để ngăn ngừa và giảm sự hình thành sẹo bất thường là gel silicone như Nourisil™ MD. Silicone cấp y tế hoạt động bằng cách tạo độ ẩm và điều chỉnh sản xuất collagen tại vị trí sẹo để làm mềm và làm phẳng các vết sẹo cũ và mới. Bằng cách đạt được cân bằng nội môi của độ ẩm và oxy tại lớp sẹo, quá trình sản xuất collagen sẽ trở lại mức ổn định. Điều này giúp mô sẹo hòa hợp với khu vực xung quanh, phục hồi chức năng và trở nên dễ chấp nhận hơn về mặt thẩm mỹ.

Mặc dù có một số thương hiệu sản phẩm gel silicone trên thị trường, Nourisil™ MD với công thức độc đáo gồm 5 loại silicone và vitamin E, thêm các lợi ích về tính khô nhanh chỉ trong 60 giây và không nhờn dính, được xem là sản phẩm hoàn hảo để quản lý và điều trị cho vết sẹo sau chấn thương va phẫu thuật.

Hãy nói chuyện với bác sĩ về thời điểm tốt nhất để bắt đầu điều trị vết sẹo của bạn để viêc chữa lành được tối ưu và khi nào là an toàn cho bạn để bắt đầu sử dụng gel silicone.

Lên đầu trang